A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG

Trong quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đưa đường lối cách mạng của Đảng thấm sâu vào nhận thức, chuyển hóa thành niềm tin và hành động tự giác của Nhân dân, đồng chí Hồ Tùng Mậu là một trong những hạt nhân tiên phong có đóng góp đặc biệt quan trọng. Là nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, người học trò xuất sắc và cộng sự gần gũi, tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí không chỉ nổi bật với tài năng tổ chức cách mạng, mà còn là người chiến sĩ kiên cường trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền và vận động quần chúng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sắc bén và phong cách gần dân, trọng dân, Đồng chí đã góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước, giác ngộ lý tưởng cách mạng và tập hợp đông đảo thanh niên, trí thức cùng các tầng lớp Nhân dân tham gia đấu tranh cách mạng. Những cống hiến ấy được hun đúc từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng kiên trung, bền bỉ của Đồng chí - một hành trình trọn đời tận hiến vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

1. Đồng chí Hồ Tùng Mậu với quá trình truyền bá tư tưởng cách mạng, chuẩn tích cực cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Những năm đầu thế kỷ XX, trước sự thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản, cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc về đường lối. Sự bế tắc này thể hiện rõ qua hoạt động của Tâm Tâm xã - tổ chức yêu nước do Hồ Tùng Mậu là một trong những hạt nhân sáng lập. Dù tràn đầy nhiệt huyết, tinh thần yêu nước, quả cảm song do thiếu một nền tảng lý luận tiên tiến soi đườnghoạt động của tổ chức vẫn chủ yếu thiên về hình thức ám sát cá nhân những tên thực dân, tay sai đầu sỏ. Bước ngoặt quan trọng đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Tùng Mậu diễn ra vào tháng 11/1924, khi Đồng chí gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu (Trung Quốc). Từ cuộc gặp gỡ mang ý nghĩa lịch sử ấy, Hồ Tùng Mậu được Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giác ngộ về con đường cách mạng vô sản. Chính Người đã chỉ rõ hạn chế của các tổ chức yêu nước đương thời còn ít hiểu biết về chính trị và không có đường lối tổ chức quần chúng.[1] Sự giác ngộ đó đã đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong nhận thức chính trị của Hồ Tùng Mậu, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống sang lập trường cách mạng vô sản; đồng thời mở đầu cho mối quan hệ gắn bó sâu sắc giữa Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Ái Quốc - những người đồng chí “đồng cam cộng khổ, như tay với chân” trong sự nghiệp cách mạng.

Tháng 6/1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trên cơ sở nòng cốt là những thành viên tích cực của Tâm Tâm xã. Trong tổ chức Hội, Hồ Tùng Mậu được cử tham gia Tổng b, trở thành một trong những cán bộ chủ chốt trực tiếp tham gia công tác tuyên truyền, huấn luyện và xây dựng tổ chức cách mạng. Trên cương vị này, vai trò tuyên truyền đường lối cách mạng của Đồng chí thể hiện qua việc:

Thứ nhất, tuyên truyền thông qua huấn luyện, đào tạo cán bộ và phát triển tổ chức. Đồng chí Hồ Tùng Mậu trực tiếp tham gia mở các lớp huấn luyện với vai trò phụ giảng cho Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các giảng viên quốc tế. Trong giai đoạn 1925 - 1927, Tổng bộ Hội đã tổ chức được 10 khóa đào tạo chính trị; đồng chí Hồ Tùng Mậu chính là trợ thủ đắc lực giúp Nguyễn Ái Quốc quản lý, điều hành và bảo đảm an toàn cho các khóa học này. Không chỉ hoạt động tại trung tâm Tổng bộ, Đồng chí còn trực tiếp đi sâu vào thực tiễn để mở rộng địa bàn. Giữa năm 1926, nhận chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Đồng chí sang Xiêm (Thái Lan) để tuyên truyền và xây dựng cơ sở trong kiều bào. Tại đây, Đồng chí đã phối hợp với nhà hoạt động yêu nước lão thành Đặng Thúc Hứa lựa chọn các thanh niên có năng lực đưa sang Trung Quốc đào tạo, đồng thời thành lập những chi bộ đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Xiêm.

Hoạt động này phản ánh tư duy tuyên truyền mang tính thực tiễn sâu sắc của đồng chí Hồ Tùng Mậu: luôn gắn kết chặt chẽ giữa công tác tuyên truyền với tổ chức. Việc trực tiếp giác ngộ kiều bào chính là quá trình cụ thể hóa lý luận, biến lý luận cách mạng thành hoạt động thực tiễn, chuẩn bị đội ngũ cán bộ cốt cán để từ đó tạo ra lực lượng cách mạng lan tỏa mạnh mẽ về trong nước.

 

Thứ hai, tuyên truyền thông qua báo chí cách mạng. Nhận thức rõ vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, dưới sự chỉ đạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã tham gia tích cực vào việc xuất bản tuần báo Thanh Niên từ tháng 6/1925. Tờ báo thực hiện nhiệm vụ kép: vừa truyền bá hệ thống tư tưởng vô sản, vừa phân tích và phê phán những hạn chế của các tổ chức yêu nước theo khuynh hướng cũ. Cùng với hệ thống bài giảng huấn luyện sau này được tập hợp thành tác phẩm Đường Kách mệnh, báo Thanh Niên đã định hình đường lối cứu nước đúng đắn cho phong trào cách mạng Việt Nam. Trong tiến trình đó, đồng chí Hồ Tùng Mậu khẳng định vai trò của một nhà tổ chức hành động xuất sắc, đưa các ấn phẩm vượt qua sự phong tỏa của kẻ thù để đến với quần chúng.

Có thể nói, trong giai đoạn bình minh trước khi có Đảng, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã thể hiện trọn vẹn trí tuệ, bản lĩnh và sự tận tụy của một nhà lãnh đạo tiền bối. Bằng công tác tuyên truyền, giác ngộ với những bước đi bài bản và khoa học, Đồng chí đã góp phần xây những viên gạch đầu tiên chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sứ mệnh này của Đồng chí mang ý nghĩa lịch sử to lớn; cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và những đồng chí khác, Hồ Tùng Mậu bắc những nhịp cầu, xây những hòn đá tảng đầu tiên đưa chủ nghĩa vô sản thấm vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân dẫn tới sự kiện tháng 02 năm 1930 - Đảng ta ra đời.

2. Đồng chí Hồ Tùng Mậu với hoạt động tuyên truyền cách mạng trong lao tù đế quốc

Trong chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian khổ, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã trải qua nhiều nhà tù, nhà đày khét tiếng của thực dân đế quốc như Hỏa Lò, Kon Tum, Buôn Ma Thuột…; phải chịu đựng những đòn tra tấn dã man cùng chế độ giam cầm hà khắc nơi “địa ngục trần gian”. Tuy nhiên, vượt lên đau thương, bệnh tật và sự khủng bố tàn bạo của kẻ thù, với bản lĩnh kiên trung của người chiến sĩ cộng sản, Đồng chí vẫn cùng anh em tù chính trị kiên cường đấu tranh chống chế độ nhà tù thực dân, động viên nhau giữ vững khí tiết và niềm tin vào thắng lợi của cách mạng. Chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, phẩm chất, trí tuệ và năng lực tuyên truyền, giác ngộ cách mạng của đồng chí Hồ Tùng Mậu càng được thể hiện rõ nét. Trong điều kiện bị kẻ thù phong tỏa gắt gao, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã thể hiện tư duy sáng tạo khi chủ biên tờ Nhật báo trong tù với đặc trưng “ba không”: “không viết, không in, không có tên”[2]. Nhật báo được phát hành bằng hình thức truyền khẩu vào lúc sáng sớm và giờ nghỉ trưa, nội dung tập trung vào việc cập nhật tình hình trong nước, thế giới và các bài xã luận. Phương thức tuyên truyền độc đáo này đã kịp thời cung cấp thông tin, đập tan các luận điệu xuyên tạc của chúa ngục, củng cố tinh thần và ý chí chiến đấu cho những người tù yêu nước.

Không chỉ dùng báo chí, Hồ Tùng Mậu còn mưu trí biến văn học nghệ thuật trở thành vũ khí tuyên truyền sắc bén. Tại nhà lao Vinh năm 1931, trong điều kiện bị giam cầm khắc nghiệt, đồng chí cùng Nguyễn Duy Trinh và một số chiến sĩ cách mạng khác tổ chức hình thức “tiểu thuyết miệng”, sáng tác và truyền bá tác phẩm Giọt máu hồng. Bằng trí nhớ mẫn tiệp của mình, tiểu thuyết được Hồ Tùng Mậu lưu truyền qua hình thức truyền miệng,  góp phần động viên tinh thần lạc quan cách mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, nhắc nhở những bạn tù trung thành với lý tưởng cách mạng trong hoàn cảnh ngục tù tăm tối. Sau này, khi bị lưu đày lên Kon Tum, Đồng chí vẫn tiếp tục sáng tác, bổ sung từng chương, từng phần của Giọt máu hồng, biến tác phẩm trở thành nguồn động viên tinh thần có sức lan tỏa sâu rộng trong giới tù chính trị.

Cùng với văn xuôi, những vần thơ cách mạng của đồng chí Hồ Tùng Mậu cũng trở thành lời hiệu triệu, tiếp thêm ý chí và niềm tin cho những người cộng sản trong lao tù. Tiêu biểu là bài thơ Tin tưởng, với những câu thơ sáng rực niềm tin:

“Cách mạng đã gieo thì kết quả,

Cường quyền không đốt cũng ra tro

Anh hùng khôn luận nơi thành bại

Thà chết còn hơn mất tự do”[3]

Những vần thơ ấy không chỉ là sự bộc lộ cảm xúc cá nhân, mà còn là tiếng nói của niềm tin sắt son vào thắng lợi tất yếu của cách mạng; đồng thời trở thành một tuyên ngôn có sức tuyên truyền, cổ vũ tinh thần to lớn đối với những người tù cách mạng trong hoàn cảnh khắc nghiệt.

Bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo tư tưởng của đồng chí Hồ Tùng Mậu càng được thể hiện rõ nét trong giai đoạn bị lưu đày tại nhà đày Buôn Ma Thuột - nơi  “rừng thiêng nước độc, cách ly với phong trào quần chúng bên ngoài và đầy rẫy bệnh tật, hiểm nguy. Trong điều kiện đó, Đồng chí đặc biệt chú trọng công tác chính trị tư tưởng đối với anh em tù chính trị. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú và tư duy chính trị sắc bén, đồng chí thường xuyên phân tích, định hướng để anh em nhận rõ âm mưu khiêu khích, chia rẽ của địch; nhấn mạnh yêu cầu giữ vững kỷ luật, đoàn kết nội bộ và đấu tranh phù hợp, tránh rơi vào khuynh hướng “tả khuynh”, nóng vội, cực đoan để kẻ thù lợi dụng đàn áp. Đây không chỉ là kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, mà còn thể hiện nghệ thuật tuyên truyền, giáo dục chính trị sâu sắc của một người cộng sản giàu bản lĩnh và thực tiễn.  

Vượt qua những năm tháng bị áp bức ở chốn lao tù, ngọn lửa đấu tranh và tài năng tổ chức, tuyên truyền của đồng chí Hồ Tùng Mậu càng trở nên kiên định và sắc bén hơn. Bằng những phương pháp linh hoạt, sáng tạo, từ báo miệng, sáng tác văn học đến giáo dục tư tưởng trực diện, Hồ Tùng Mậu đã chủ động biến những “địa ngục trần gian” thành trường học cách mạng. Những hoạt động tuyên truyền mưu trí, kiên cường đó đã trực tiếp góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, giữ vững ngọn lửa đấu tranh và niềm tin tất thắng vào tương lai của cách mạng.

3. Đồng chí Hồ Tùng Mậu với công tác tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện đường lối kháng chiến, kiến quốc

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, chính quyền cách mạng non trẻ ngay lập tức phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách: thù trong, giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt, âm mưu chống phá của các thế lực phản động trong khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ngày càng quyết liệt. Trong bối cảnh đó, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện đường lối kháng chiến, kiến quốc của Đảng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Với bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, lòng trung thành, tận tụy và uy tín lớn trong phong trào cách mạng, đồng chí Hồ Tùng Mậu được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiều trọng trách quan trọng. Trên các cương vị lãnh đạo, đồng chí đã vận dụng linh hoạt công tác tuyên truyền, gắn chặt tuyên truyền với tổ chức lực lượng, xây dựng chính quyền và vận động quần chúng tham gia kháng chiến. Điểm nổi bật trong giai đoạn này là sự chuyển biến về phương thức tuyên truyền: từ hoạt động bí mật, chủ yếu thông qua sách báo sang tuyên truyền bằng hành động thực tiễn, bằng tác phong, đạo đức và sự nêu gương của người lãnh đạo.

Trên cương vị Chính ủy đầu tiên của Liên khu IV, thấm nhuần đường lối quân sự của Đảng, đồng chí đã lãnh đạo công tác tổ chức Đảng của Liên khu, nhanh chóng hình thành tổ chức Đảng trong Liên khu bộ, trong các chi đội của 6 tỉnh Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; qua đó, hình thành hệ thống công tác chính trị tư tưởng trong lực lượng vũ trang Liên khu. Đồng thời, Đồng chí đặc biệt quan tâm công tác đào tạo cán bộ quân sự gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng. Các lớp đào tạo tiểu đội trưởng được kéo dài thời gian học tập, không chỉ huấn luyện quân sự mà còn chú trọng bồi dưỡng nhận thức chính trị, công tác hậu cần và tinh thần phục vụ Nhân dân. Đồng chí cũng trực tiếp phụ trách Trường Quân chính Xứ ủy Trung Bộ khai giảng tại Huế ngày 15/11/1945. Những chủ trương đó không chỉ góp phần xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh mà còn thể hiện tư duy sâu sắc của Hồ Tùng Mậu về vai trò của công tác tư tưởng trong xây dựng quân đội cách mạng.

Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang, đồng chí Hồ Tùng Mậu đặc biệt quan tâm công tác dân vận, tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia kháng chiến, kiến quốc bằng những hành động thiết thực, gần gũi với đời sống. Dưới sự lãnh đạo của Liên khu ủy và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí, nhiều phong trào quần chúng đã được phát động sâu rộng như vận động đồng bào góp tiền mua súng, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, đào hào, đắp lũy, tổ chức làng chiến đấu bảo vệ quê hương. Các mô hình “Mẹ chiến sĩ”, “Quán quân nhân”, phong trào “Tháng đỡ đầu dân quân”[4] được triển khai rộng khắp, huy động nguồn lực vật chất tại chỗ để nuôi quân trong điều kiện chiến đấu khó khăn. Thành công của những phong trào đó cho thấy nghệ thuật tuyên truyền, vận động quần chúng sâu sắc của đồng chí Hồ Tùng Mậu - biến đường lối “toàn dân kháng chiến” của Đảng thành nhận thức và hành động tự giác của đại đa số quần chúng Nhân dân..

Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Liên khu IV, đồng chí Hồ Tùng Mậu được biết đến là người có tác phong chan hòa, bình dị, chính trực, có uy tín lớn trong Nhân dân, được Nhân dân yêu mến và gọi thân mật là “Cụ Mậu”. Thời gian này, tại một số địa phương xuất hiện tình trạng một số linh mục đạo Thiên Chúa nghi ngờ, ngấm ngầm vận động giáo dân không hợp tác với chính quyền cách mạng; ở Liên khu IV, Chính ủy - Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Hồ Tùng Mậu đã kiên trì giải thích chính sách của Đảng, Chính phủ cho họ hiểu, với thái độ nghiêm túc mà chan hòa, giản dị, gần gũi, Đồng chí thuyết phục và tranh thủ được sự ủng hộ của các chức sắc tôn giáo. Sự nêu gương và uy tín cá nhân của “Cụ Mậu” chính là công cụ tuyên truyền sắc bén nhất, đập tan âm mưu chia rẽ, làm cho đồng bào giáo dân và nhân dân trong Liên khu tin tưởng vào chính quyền cách mạng.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, ngày 18/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 138b-SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ, Sắc lệnh 138C-SL cử đồng chí Hồ Tùng Mậu giữ chức Tổng Thanh tra Chính phủ. Tiếp nhận trọng trách này khi tuổi đời đã ngoài 50, song với bản lĩnh, trí tuệ và ý chí được tôi luyện trong những năm bị địch bắt tù đày cùng những năm tháng hoạt động nơi đất khách xứ người, Hồ Tùng Mậu đã cùng các đồng chí trong Ban Thanh tra nhanh chóng kiện toàn tổ chức đưa công tác thanh tra đi vào nền nếp.

Đồng chí không coi công tác thanh tra đơn thuần chỉ là kiểm tra, kỷ luật mà biến thanh tra thành phương thức để tuyên truyền, uốn nắn cán bộ, đảng viên. Thông qua những chuyến công tác không mệt mỏi xuống cơ sở, đồng chí đã trực tiếp giải thích cho cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời nghiêm khắc chấn chỉnh tình trạng tham ô, lãng phí, bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân và uy tín của Đảng, Chính phủ.

Những vụ án lớn thời kỳ Hồ Tùng Mậu là Tổng Thanh tra Chính phủ được giải quyết kịp thời như: Vụ án H122 (tháng 3/1949) giải oan cho hàng trăm cán bộ, đảng viên, quần chúng bị nghi ngờ là gián điệp cho Pháp hoạt động trong các tổ chức ở vùng căn cứ Việt Bắc; vụ án biển thủ công quỹ, tham ô của Trần Dụ Châu (những năm 1949 - 1950); hay kiểm tra Mặt trận đường 5 (tháng 01/1951). Chính sự công tâm, mẫu mực và tinh thần trách nhiệm ấy đã trở thành hình thức tuyên truyền sinh động nhất về đạo đức cách mạng, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chính quyền cách mạng.

Đặc biệt, tư duy coi trọng công tác tuyên truyền, vận động quần chúng của đồng chí Hồ Tùng Mậu còn được thể hiện rõ qua những kiến nghị của Đồng chí trước Chính phủ sau quá trình đi thực tế tại các địa phương năm 1950. Từ thực tiễn kiểm tra, đồng chí thẳng thắn chỉ ra hạn chế của một số địa phương trong việc thực hiện chính sách, còn nặng về mệnh lệnh hành chính mà xem nhẹ công tác tuyên truyền, giải thích, vận động Nhân dân. Đồng chí nhấn mạnh yêu cầu phải làm cho cán bộ và Nhân dân hiểu và tin vào chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ. Quan điểm đó cho thấy tư duy chính trị sâu sắc và nhất quán của Hồ Tùng Mậu: sức mạnh của cách mạng không chỉ nằm ở chủ trương đúng đắn, mà còn ở khả năng thuyết phục, giác ngộ và phát huy sức mạnh tự giác của quần chúng Nhân dân.

4. Một số bài học từ hoạt động tuyên truyền cách mạng của đồng chí Hồ Tùng Mậu đối với công tác tuyên truyền của Đảng hiện nay

Giữa lúc bộn bề công việc, trên đường đi công tác, ngày 23 tháng 7 năm 1951 đồng chí Hồ Tùng Mậu đã anh dũng hy sinh dưới làn bom đạn của địch. Trọn cuộc đời hơn 30 năm hoạt động cách mạng liên tục, Đồng chí đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhìn lại toàn bộ quá trình hoạt động sôi nổi của đồng chí, có thể khẳng định: Hồ Tùng Mậu không chỉ là nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, nhà tổ chức mà còn là tấm gương mẫu mực trên mặt trận tư tưởng của Đảng.

Kỷ niệm 130 năm ngày sinh đồng chí không chỉ là dịp để chúng ta tôn vinh, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc mà quan trọng hơn là soi chiếu vào thực tiễn để kế thừa và phát huy. Trong bối cảnh công tác tư tưởng của Đảng đang đặt ra những yêu cầu mới, sự nghiệp và tấm gương của đồng chí Hồ Tùng Mậu để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý giá, nổi bật và có ý nghĩa sâu sắc nhất là hai bài học cốt lõi:

Thứ nhất, bài học về sự linh hoạt, sáng tạo, không rập khuôn máy móc về phương pháp tuyên truyền

Trước đây giữa chốn lao tù khắc nghiệt, kẻ thù tra tấn dã man nhằm thu thập thông tin, bóp nghẹt ý chí, Đồng chí đã mưu trí dùng “Báo miệng”, “Tiểu thuyết miệng” để vừa giữ bí mật, vừa dùng lời nói, tình cảm của mình để truyền lửa, cổ vũ tinh thần chiến đấu của bạn tù. Ngày nay, công tác tuyên truyền cũng đòi hỏi sự linh hoạt tương tự. Trong bối cảnh kỷ nguyên số, phương thức tuyên truyền cần được đổi mới để bắt nhịp với quá trình chuyển đổi số song phải bám sát thực tiễn và đặc điểm văn hóa, cư dân của từng địa bàn. Chuyển đổi là phương tiện, không là mục đích mà mục đích tối thượng của sự linh hoạt ấy là làm sao để chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được thấu suốt, lan tỏa đến từng người dân, từng đảng viên, cán bộ.

Thứ hai, bài học về nghệ thuật tuyên truyền thông qua hành động thực tiễn và sự nêu gương

Từ cuộc đời thanh bạch, giản dị, tận trung với nước, tận hiếu với dân, sự hy sinh anh dũng của đồng chí Hồ Tùng Mậu, chúng ta nhận thức sâu sắc rằng: Lời nói phải đi đôi với việc làm. Tuyên truyền hiệu quả nhất không nằm ở khẩu hiệu sáo rỗng mà ở chính hành động, việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên. Học tập đồng chí, mỗi chúng ta cần phải biến việc tuyên truyền thành ý thức tự giác thông qua việc không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phẩm chất, chuyên môn. Mỗi cán bộ phải thực sự biết lắng nghe, thấu hiểu, gắn bó máu thịt với quần chúng. Đây là vũ khí tuyên truyền sắc bén nhất để củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Bài học này có giá trị quan trọng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, bởi uy tín của tổ chức đảng và sức mạnh nền tảng tư tưởng luôn được vun đắp từ chính những tấm gương của đảng viên trong hành động thực tế.

Thứ ba, bài học về gắn công tác tuyên truyền với công tác tổ chức và vận động quần chúng

Hoạt động cách mạng của đồng chí Hồ Tùng Mậu cho thấy tuyên truyền không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt lý luận hay phổ biến chủ trương, đường lối, mà phải gắn chặt với tổ chức lực lượng và vận động quần chúng hành động cách mạng. Từ quá trình xây dựng cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu, Xiêm đến việc vận động Nhân dân tham gia kháng chiến, xây dựng làng chiến đấu ở Liên khu IV, Đồng chí luôn coi trọng việc biến nhận thức thành hành động thực tiễn. Đó cũng chính là điểm đặc sắc trong tư duy tuyên truyền của Hồ Tùng Mậu: Tuyên truyền phải hướng tới mục tiêu giác ngộ, tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Bài học đó tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc trong giai đoạn hiện nay. Công tác tuyên truyền của Đảng muốn đạt hiệu quả không thể chỉ dừng ở việc “thông tin một chiều”, mà cần tăng cường tính đối thoại, tính vận động và khả năng tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Mỗi chủ trương, chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi Nhân dân hiểu, tin tưởng và tự giác tham gia thực hiện. Vì vậy, công tác tuyên truyền cần gắn chặt hơn với công tác dân vận, với các phong trào thi đua yêu nước và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tóm lại, có thể khẳng định, cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, liên tục của đồng chí Hồ Tùng Mậu đã thể hiện rõ đồng chí là tấm gương sáng về lòng yêu nước, chí trung kiên và tinh thần cống hiến trọn đời cho cách mạng. Trong đó, trên mặt trên công tác tư tưởng, Đồng chí là hình mẫu về nghệ thuật “tuyên truyền bằng hành động thực tiễn và sự nêu gương”. Từ tham gia những lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu, qua những năm tháng bị giam cầm khổ sở nơi lao tù đế quốc, hoạt động bí mật nơi hải ngoại, cho đến khi được giao phó những trọng trách quan trọng của Đảng và Chính phủ, Hồ Tùng Mậu vẫn luôn giữ được tinh thần, nhiệt huyết, tinh thần tận tụy.

Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí Hồ Tùng Mậu là dịp để chúng ta thành kính tưởng nhớ, ôn lại cuộc đời hoạt động cách mạng vẻ vang và những cống hiến to lớn của Đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; qua đó càng thêm tự hào, trân trọng những hy sinh, đóng góp của các thế hệ tiền bối cách mạng. Noi gương đồng chí Hồ Tùng Mậu, mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay, nhất là đội ngũ làm công tác tuyên giáo và dân vận, cần không ngừng tu dưỡng bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, đổi mới tư duy, phương pháp công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, vận động quần chúng. Qua đó góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, xứng đáng với sự hy sinh và những cống hiến to lớn của các thế hệ tiền bối.


Tác giả: Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Nguồn:(TTXVN/Vietnam+) Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Khảo sát
Bạn cảm thấy chất lượng dịch vụ của chúng tôi thế nào?
Thống kê truy cập
Hôm nay : 7.277
Tháng 06 : 435.008